Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sỏi mật sẽ gây ra các biến chứng hiểm.
Bệnh sỏi mật là một bệnh về đường tiêu hóa do sự hình thành sỏi trong túi mật gây ra. Đây là một bệnh lý rất thường gặp, có khoảng 20% dân số trên thế giới từng mắc phải.
nguyên cớ và triệu chứng
căn nguyên:
Trong thân, mật được gan sinh sản ra và dự trữ trong túi mật. Mật có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa các chất béo. Khi mật chứa quá nhiều cholesterol hay sắc tố mật, sẽ dần dần hình thành các tinh thể được gọi là sỏi mật. Sỏi mật là những hạt sỏi cứng có kích thước đổi thay từ vài milimét đến vài centimét. Thành phần cốt yếu của sỏi mật là cholesterol, muối mật và calcium.
bây giờ y khoa vẫn chưa biết rõ căn nguyên chuẩn xác gây ra bệnh sỏi mật. Tuy nhiên có một số nguyên tố tiện lợi gây ra bệnh:
- Béo phì.
- Chế độ ăn giàu chất béo.
- Tuổi tác: càng lớn tuổi càng dễ mắc bệnh.
- Giới tính: nữ giới dễ mắc bệnh hơn nam giới.
- Dược phẩm: thuốc ngừa thai, thuốc giảm lipid (clofibrat, fenofibrat)… khi sử dụng thời gian dài sẽ gia tăng nguy cơ bệnh sỏi mật.
- Rối loạn mỡ máu.
Phân loại:
Bệnh sỏi mật được chia làm 2 dạng tùy thuộc theo thành phần của sỏi mật: sỏi cholesterol hay sỏi sắc tố mật.
Sỏi cholesterol bao gồm ít nhất 60% là cholesterol và thường gặp ở các nước Tây Âu và Mỹ.
Sỏi sắc tố mật thành phần cốt là calcium bilirubinat, có màu nâu hoặc đen do có nồng độ sắc tố mật cao và chiếm tỉ lệ trên 90% bệnh sỏi mật ở người châu Á.
Triệu chứng:
Triệu chứng của bệnh sỏi mật rất đa dạng: từ chừng độ nhẹ người bệnh không nhận biết chỉ phát hiện ngẫu nhiên khi đi khám bệnh, đến cảm giác đau ở vùng thượng vị, đầy bụng và trong trường hợp nghiêm trọng người bệnh đau bụng dữ dội, buồn nôn, ói…
Bệnh sỏi mật nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra biến chứng vàng da (do sỏi làm tắc nghẽn ống dẫn mật), viêm túi mật… và trong trường hợp hiếm gặp là ung thư túi mật.
Thuốc điều trị
hiện giờ có 2 phương pháp để điều trị bệnh sỏi mật:
Ngoại khoa: giải phẫu cắt bỏ túi mật trong trường hợp bệnh sỏi mật thường hay tái phát.
Nội khoa: dùng thuốc để làm tan sỏi mật và quá trình điều trị diễn ra trong một thời kì dài. Phương pháp này thường được ứng dụng cho những bệnh nhân chẳng thể phẫu thuật.
Axít ursodeoxycholic là hoạt chất chính yếu được dùng làm thuốc điều trị bệnh sỏi mật. Thuốc này được chỉ định điều trị trong trường hợp sỏi mật có số lượng ít hay sỏi mật không cản quang tia X, có đường kính <15mm và chức năng túi mật còn tốt.
Trong thiên nhiên, axít ursodeoxycholic là một axít mật có trong thành phần của mật.
Cơ chế tạo dụng:
Axít ursodeoxycholic có tác dụng làm giảm sự sản sinh cholesterol từ gan và ngăn chặn sự hấp thu cholesterol từ ruột, tạo điều kiện thuận tiện làm tan các sỏi thận được hình thành do sự tích cholesterol.
Tác dụng dịch thuật đà nẵng phụ:
- Rối loạn tiêu hóa: đi tả, buồn nôn, ói…
- Ngứa, phát ban.
- mỏi mệt, chóng mặt…
Chống chỉ định:
- Không dùng cho đàn bà có thai và cho con bú.
- Không dùng cho bệnh nhân có thương tổn thực thể ở gan, bao tử, ruột.
- Không dùng cùng lúc với các thuốc antacid, charcoal, colestipol, colestyramin… vì gây ra tương tác làm giảm hoạt tính.
Đối với bệnh sỏi mật, việc phòng ngừa là khôn cùng quan yếu. Một chế độ ăn uống thăng bằng ít chất béo, tăng cường tập luyện thể dục, thể thao, tránh béo phì… sẽ góp phần giảm thiểu các yếu tố thuận tiện làm phát sinh bệnh sỏi mật!
DS. MAI XUÂN DŨNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét