Nhiều cháu bé len lét nhìn bà. Có cháu khóc ré lên vì sợ hãi. Đối với chúng, bà như người đồ sộ mắt xanh, mũi lõ. Chỉ độc nhất vô nhị một cháu gái không sợ. Cháu lẫm chẫm đến bên bà, quạt cho bà, rồi múa bà xem. “Cháu tên là gì?”. Blaga âu yếm cúi xuống hỏi. “Dạ, cháu tên Hà. Hoàng Thu Hà!”. “Cháu mấy tuổi rồi?”. “Cháu 5 tuổi!”. “Thế chân cháu làm sao thế kia? Muỗi đốt à?”. “Không, đỉa cắn đấy!”. “Đỉa ở đâu?”. “Đỉa dưới hầm ẩn nấp. hầm trú ẩn nhiều đỉa lắm!”. “Thế cái gì ở cổ tay cháu kia?”. “Dạ, cái vòng ạ!”. “Thế chữ gì ở trên vòng thế?”. “Dạ, chữ Hoàng Thu Hà. - Cô bé giảng giải. - Cô giáo Nhung khắc tên Hà vào đây, để nếu bom Mỹ có giết chết Hà thì cô giáo Nhung còn biết mà báo cho mẹ Hà...”. Nhà thơ Chế Lan Viên dịch cuộc hội thoại này. Ông bắt chước hệt giọng điệu trẻ nít đến nỗi cháu bé ngoẹo cổ cười ngặt nghẹo. Chế Lan Viên cũng cười. Nhưng Blaga thì khóc. Và rồi từ ấy, thành một nỗi ám ảnh, bà không còn sống thảnh thơi được nữa. Cứ nhắm mắt nhắm mũi lại là thấy những trái bom săn tìm cháu bé đẹp ấy. Rồi bà lại sang Việt Nam. Lần này bà muốn cứu cháu bé thoát khỏi những trái bom. Phải vất vả lắm, bà mới qua hết các thủ tục, để đưa được cháu bé về Bungari. Hơn mười năm sau, Hoàng Thu Hà đã là nghệ sĩ piano. Cô nói giỏi tiếng Bun, nhưng tiếng Việt thì không còn nhớ nữa. Blaga không muốn cô trở thành một kẻ xa lạ với giang sơn mình. Bà thư cho Xuân Diệu, qua Xuân Diệu, nhờ tôi thỉnh thoảng viết thư cho Hà, để qua những bức thư đó, cô bé làm quen lại với tiếng Việt. Cũng cho nên mà tôi thành người nhà của gia đình bà. Năm 1979, tôi có dịp cùng nhà phê bình Hà Minh Đức sang thăm Bungari theo lời mời của Hội Nhà văn bạn. Hà đã bi bô chuyện trò với tôi bằng tiếng Việt:” Ăn Khoa ơi, ăn Khoa! Sao ăn đi nhăn thế? Ôi, ăn biết khuông, huông qua, em ăn cá, hóc, chữa mãi không khỏi. Cô Blaga lo lắm. Cô ấy gọi thầy thuốc. Em phải nuốt bao nhiêu đồ đạc mới xong đấy...”. “đồ đạc à?”. Tôi kinh ngạc hỏi. Hoàng Thu Hà xoè cả hai bàn tay ra giải thích: “Vâng! Chuối, táo, cả khoai tây nữa, ăn Khoa ạ”. “Thế thì không phải đồ đoàn rồi. - Nhà phê bình Hà Minh Đức giảng giải. - đồ đoàn là bàn, ghế, tủ, đèn, phích nước, tủ lạnh...” . “Ố! - Hà kêu lên đầy vẻ sợ hãi. - Thế thì em không nuốt đồ đoàn đâu!”. Hà là cô gái như thế đấy. Một người Việt ở nước ngoài. Cô có nước da trắng nõn của người châu Âu, nhưng lại có cái dáng dong dỏng, nhỏ nhắn của người Việt. Tiếp xúc với cô, tôi thấy cô rất sáng dạ và sắc sảo. Một lần, chúng tôi vào rạp chiếu bóng, xem một bộ phim đang ăn khách của Bungari. Trên màn ảnh là cảnh hai anh chàng du thủ du thực đang nằm trên bãi cỏ. Một anh ngáy như sấm. Một anh vô tình bắt được con châu chấu ma. Anh ta vặt cánh rồi nhét vào miệng anh chàng đang ngáy. Thế là cả rạp cười ầm lên. Hà quay lại bảo tôi: Anh thấy quần chúng ở đây dễ dãi không? Cái việc vớ vẩn như thế thì chỉ có trẻ em nó mới cười. Hồi bấy giờ, ở Bungari có Nhà thơ Vapvarop rất nổi danh. Ông bị phát xít Đức giết hại. Dân Bun rất tự hào về ông. Coi ông như Maiacopxki của Bungari. Vẽ chân dung ông, người ta còn cố tình vẽ cho thật giống Maiacopxki. Hà lại bình phẩm: Buồn cười thật. Nếu có tự hào về Vapvarop thì phải kiêu hãnh vì Vapvarop là Vapvarop. Chứ sao lại tự hào vì Vapvarop là ông Maia. Người Bun kỳ cục thật. Chỉ cần nghe radio thông báo: Chiều nay Matxcova có mưa nhỏ, thế là ngay từ buổi trưa, người dân Sophia đã giương hết cả ô lên rồi.
Nhà thơ Trần đại đăng khoa và thi hào Bungari Blaga Đimitrova.
Có lần, Hoàng Thu Hà về nước. Tôi kinh ngạc khi thấy cô y hệt một nữ sinh Sài Gòn. Giọng nói cũng là giọng nói của người Sài Gòn pha tạp. Chỉ nước da trắng nõn khiến ta còn nhận ra cô là người ở châu Âu. Hà vẫn sống độc thân. Cô bảo: “Em đã đi hết nửa vòng địa cầu rồi, đã sống ở rất nhiều nước, nhưng em không thấy đâu hay hơn Việt Nam. Ở Việt Nam, các món ăn rất ngon. Ngon nhưng mà rẻ. Người Việt thật ráo trọi. Tất nhiên cô Blaga cũng rất tuyệt. Cô ấy tốt lắm. Tốt khôn cùng”. Nghe Hà nói, tôi chợt nhớ lần qua Bungari. Lâu rồi. Lâu lắm rồi. Trước khi rời Bungari, tôi mới gặp được bà Blaga Đimitrova. Lúc ấy, như toàn bộ các nhà văn Bungari, bà không có lương, chỉ sống bằng nhuận bút. Gặp tôi và Hà Minh Đức, bà ấn vào tay mỗi người 200 lêva, bằng cả số tiền Hội Nhà văn Bungari cho để ăn trong vòng một tháng trong thời kì ở nước Bun. Tôi và Hà Minh Đức kiên quyết từ chối, nhưng không sao từ chốiđược. Bà bảo: “Vải Bungari rất tốt, cháu nên mua về cho gia đình, mua cả xà phòng nữa. Ở Việt Nam bây chừ xà phòng hiếm lắm. Ngoài chợ đen, người ta còn pha cả tạp chất vào nữa, không giặt được đâu, cháu chịu khó mang xà phòng về”. hẳn nhiên, lúc đó, chúng ta vẫn còn đang sống trong thời bao cấp. Những ai không sống trong những năm 80 thì chẳng thể hiểu được. Blaga Đimitrôva như thế đấy. Bà đúng là một đàn bà. Hiểu người Việt và thương người Việt như bà, có nhẽ chẳng ai được như bà đâu. Trước khi rời nước Bun, tôi lại có nhuận bút thơ. bỗng nhiên lại có cả một đống tiền, mà chẳng biết mua gì. Tôi quyết định thay mặt đoàn nhà văn Việt Nam mời gia đình bà một bữa cơm thịnh soạn. Bà Blaga đưa tôi vào một quán ăn trên đỉnh núi Vitôsa. Đó là một cái quán nhỏ dựng bằng gỗ sồi nằm chìm trong cây lá. Ngồi trong quán, qua những tấm cửa kính, có thể nhìn thấy những chú nai rừng đi thủng thẳng bên triền núi. Tôi với tờ menu, chọn món ăn. Vì không biết tiếng Bun, nên tôi chỉ nhìn vào những con số. Cứ món nào đắt, có số tiền lớn là tôi lấy bút bi chọc vào. Bàn ăn bày la liệt toàn những món hảo hạng. Tôi thử hỏi khoảng 400 lêva, bằng đúng số tiền bà cho chúng tôi. Bà Blaga chỉ tủm tỉm cười: "Đúng là cách ăn của người nghèo”. Bữa tiệc tàn, tôi ra quầy tính sổ, và rất sửng sốt khi ông chủ hiệu chỉ lấy có 5 lêva. “Đây là quán ăn dành cho người nghèo, chỉ những người nghèo mới đến ăn ở đây! Đồ ăn ở đây rẻ hơn những nơi khác”. - Bà Blaga giải thích. Tôi hỏi Hà, Hà bảo: “Cô Blaga nói đúng đấy. Ở quán ăn này, món nào người ta cũng giảm giá. Quán của người nghèo mà!”. Mãi sau này, tôi mới biết bà Blaga đã trả tiền trước rồi, tôi chỉ trả tượng trưng tiền một ly rượu thôi. Tôi vô cùng áy náy. Hóa ra mình lại trút lên vai bà Blaga một gánh nặng nữa. Bà chỉ sống bằng nhuận bút, chứ có lương đâu. Ở nước Bungari, cũng như rất nhiều nước khác, nhà văn không có lương. bởi vậy, chỉ những người thực tài mới trụ được bằng nghề văn. Còn những anh nhàng nhàng, sẽ không sống nổi, phải chuyển sang nghề khác. “Anh hối hận quá, Hà ạ. - Sau hơn hai mươi năm, giờ tôi mới nói được với Hà. - Hồi ấy, anh không biết. Không biết gì cả, vì quá tin em, cứ tưởng dịch thuật tại phú thọ em đứng về phía anh cơ...”. “đương nhiên em bao giờ cũng đứng về phía anh, phía người nghèo, nhưng em cũng đứng về phía cô Blaga nữa. Cô ấy muốn như thế mà...”. Blaga Đimitro là như vậy đó. Người dân Bungari rất yêu bà. Họ bầu bà làm Phó Tổng thống Bungari. “hiện giờ cô Blaga thế nào?”. “Cô ấy yếu lắm. Hơn 80 tuổi rồi. Đau ốm luôn. Hồi làm Phó tổng thống, cô ấy cứ đòi từ nhiệm. Cô ấy bảo: Nhân dân yêu mình, tin mình, bầu mình lên, chứ mình có phải là Phó tổng thống đâu. Người ta yêu cô Blaga lắm. bao lăm người chuyển tiền cho cô để cô làm từ thiện, cứu những người nghèo khổ. Cô Blaga còn sẻ vào đó một nửa lương mỗi tháng để trợ giúp, cứu trợ người nghèo. Đó là cái hồi cô ấy làm Phó tổng thống...”. “Thế còn hiện? bây giờ cô ấy có lương không, hay vẫn chỉ sống bằng nhuận bút?”. “Cô ấy có lương . Lương Phó tổng thống về hưu...”. “Khoảng bao lăm?”. “Đổi ra ngoại tệ thì trị giá hơn 400 đô-la”. “Thế thì sống làm sao được?”. “Sống được đấy. - Hoàng Thu Hà nhìn tôi rất nghiêm chỉnh. - Với cô Blaga thì chỉ cần chút bánh mì với nước lạnh là đã hạnh phúc rồi. Cô ấy đã sống như thế và dạy em sống như thế. Cô ấy là thi sĩ, là người ở trên giời. Mà người giời thì chỉ cần như thế là sống được thôi”...
Trần đại đăng khoa và Hoàng Thu Hà chụp năm 1979.
hiện giờ thì nữ nhà thơ Blaga đã là người thiên cổ. Mà cũng đã 15 năm rồi. thời gian đi nhanh quá. Tôi cũng đã thành một lão già và Hoàng Thu Hà cũng đã nghỉ hưu. Cô vẫn độc thân, dạy nhạc từ thiện cho con nít nghèo ở các nhà thờ ở Sophia. Tôi ghi lại chút kỷ niệm này, kẻo đến lúc lú lấp, muốn ghi lại cũng không làm được nữa. vì thế mới có bài viết về những chuyện xa lắc này...
Nhà thơ TRẦN đại đăng khoa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét