Thứ Tư, 3 tháng 4, 2019

Đối phó với bệnh mề đay

Đặc điểm nhận dạng

Người ta chia mề đay thành 2 loại theo thời gian bị bệnh. Mề đay cấp là mề đay mới xuất hiện và kéo dài không quá 6 tuần. Mề đay mãn tính là mề đay kéo dài từ 6 tuần trở lên và có triệu chứng trong hồ hết các ngày trong tuần. Nhìn chung cơ chế dị ứng khá phức tạp, có thể hiểu đơn giản là trong thân thể có một loại tế bào tên là tế bào Mast ở lớp hạ bì của da và một loại tế bào khác là tế bào ưa kiềm. Khi gặp tác nhân gây dị ứng những tế bào này vỡ ra và phóng thích chất gây ngứa (chất histamin) và nhiều chất trung gian khác gây giãn các huyết mạch tại chỗ dẫn tới những mảng phù, gồ trên da và rất ngứa - được gọi là mề đay.

Các nốt này là một mảng gồ trên da, có bờ rõ ràng, màu hồng hay đỏ nhưng ở trọng tâm mảng mề đay thì thường nhạt màu hay hơi trắng. Mề đay thường có hình tròn, hình ovan hay ngòng ngoèo, đặc biệt rất ngứa ảnh hưởng tới công việc và học tập, ngứa nhiều hơn về đêm. Kích thước mề đay có thể từ vài milimets đến vài centimet. Có một hay nhiều mảng mề đay nổi ở vị trí bất kỳ trên cơ thể, tuy nhiên mề đay hay thấy ở vùng mặc quần áo hoặc vùng nếp gấp nhiều hơn.

Diễn biến của mề đay thường thoáng qua và tùy từng người. Nó xuất hiện và lớn lên trong vòng từ vài phút đến vài giờ và biến mất sau 24 giờ với mề đay cấp. Mề đay không đau và khi biến mất không để lại vết bầm trên da trừ khi trẻ gãi gây trầy xước da hay bị chấn thương. Nếu mảng ngứa mà đau và biến mất để lại vết bầm thì xem chừng là bệnh khác.

Đối phó với bệnh mề đay Diễn biến của mề đay thường thoáng qua và tùy từng người.

Mề đay có thể kèm với hiện tượng phù mạch (sưng mặt, môi , bộ phận sinh dục, đầu chi…). Nếu chỉ có phù mạch mà không có mảng mề đay nên nghĩ tới và đi tìm căn do khác gây phù mạch như các thuốc chả hạn.

duyên cớ gây mề đay

Nhiễm trùng (nhiễm virus hay vi khuẩn): Chiếm 80% các trường hợp trong đó nhiễm virus hay gặp hơn vi khuẩn. Virus hay gặp nhất là piconavirus, coronavirus, virus hợp bào hô hấp và vài loại virus khác. Những mề đay mà khó trị với thuốc kháng dị ứng nhưng đáp ứng tốt với kháng sinh azithromycin thì thường liên can với nhiễm khuẩn Mycoplasma Pneumoniae ở trẻ em. Mề đay cấp cũng có thể xuất hiện trong thời đoạn tiền triệu của nhiễm viêm gan A, B; cũng có thể là thể hiện ban đầu của nhiễm HIV - tuy nhiên hiếm.

Nhiễm ký sinh trùng: Nhiễm giun lươn, sán chó, giun đũa... cũng là một nguyên cớ đáng chú ý gây ra mề đay cấp. Ăn cá sống có chứa ký sinh trùng Anisakis simplex cũng có thể gây mề đay.

Thuốc: Các thuốc kháng sinh như cephalexin, cefuroxim, cepodoxime… là hay gây dị ứng mày đay hơn cả.

Nọc và vết cắn sâu bọ: Các loại ong như ong vẽ, ong bầu hay kiến vàng, con rệp...

Mủ cao su: Việc tiếp xúc với mủ cao su như bóng bay, bít tất tay... cũng có thể gây mề đay, phù mạch, hen thậm chí sốc phản vệ.

Thực phẩm và phụ gia thực phẩm: Thường mề đay sẽ xuất hiện trong vòng 30 phút sau khi ăn hay uống các thực phẩm gây dị ứng. Ở trẻ thơ hay gặp là: Sữa, trứng, đậu phộng, hạt trái cây, đậu nành, tiểu mạch. Người lớn thì hay dị ứng với cá, sò ốc, hạt trái cây, đậu phộng...

Ngoài ra có những nguyên do ít gặp hơn cũng gây mề đay như xúc tiếp vật lý (với lạnh, đổi thay nhiệt độ đột ngột, đè lên da, vận động...). Một số bệnh hệ thống cũng có thể gây mề đay: Bệnh lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp thiếu niên tự phát...

Điều trị mề đay cấp tính

Điều trị bằng thuốc: Có đến 2/3 trường hợp mề đay cấp biến mất một cách tự nhiên mà không cần điều trị. Do đó, nên giao hội điều trị chứng ngứa và phù mạch (nếu có).

Thuốc kháng histamin H1: Có thể dùng đời 1 như chlopheniramin, dexchlophrniramin, diphenhydramine, hydroxyzine... Các tác dụng phụ hay gặp ở khi dùng thuốc kháng histamine thế hệ 1 bao gồm: Ngầy ngật, buồn ngủ, khô miệng, táo bón, bí tiểu... Nếu dùng liều quá cao có thể li bì, co giật. Do đó bác mẹ không nên tự ý mua thuốc cho con dùng. Hoặc có thể dùng các thuốc kháng histamin H1 thế hệ 2 như cetirizin, loratadine, fexofenadine...

Các kháng histamin H2: Các thuốc trong nhóm này như cimetidine, ranitidine, famotidine... dùng cốt trong bệnh viêm loét dạ dày, nhưng nếu kết hợp kháng histamin H1 ở trên với nhóm này thì sẽ hiệu quả hơn trong điều trị mề đay cấp.

Các thuốc glucocorticoide: Các thuốc này (prednisone, methylprednisolon...) có thể thêm vào cùng với kháng histamin để điều trị các chứng mề đay kéo dài hoặc nặng. Lưu ý thuốc này phải có chỉ định của thầy thuốc và không dùng dài ngày, nên uống sau ăn sáng.

Kháng sinh: Không dùng kháng sinh thường quy trong mề đay mà chỉ dùng khi nghi mề đay do Mycoplazma pneumoniae và kém đáp ứng với các thuốc trên. Kháng sinh chọn trong trường hợp này là azithromycin.

Thuốc bôi: Có thể dùng thuốc bôi để làm giảm nhanh triệu chứng tại chỗ, thuốc bôi có thể chứa thuốc kháng histamin như phenergan hoặc thuốc có chứa corticoide như eumovate... Những thuốc bôi này còn hay được dùng trong những trừờng hợp sẩn ngứa và côn trùng cắn.

Trường hợp nặng, mề đay kèm theo khó thở, thở rít, khò khè, tím tái, ói mửa, vật vã... thì đó là dạng dị ứng nặng, bao gồm cả sốc phản vệ. Những trường hợp này phải điều trị tại bệnh viện với thuốc tiêm andrenalin, methylprednisolon, dimedrol....

Nếu bệnh nhân bị mề đay mà có mô tả nặng như: Vật vã, kích thích, tím tái, co giật, khò khè khó thở, thở rít, phù hết mặt, nôn ói... cần cho nhập viện gấp hoặc gọi cấp cứu 115.

Đối phó với bệnh mề đay trẻ con là đối tượng dễ bị mề đay.

Phòng bệnh như thế nào?

Nếu xác định được căn do gây dị ứng thì tuyệt đối tránh tiếp xúc lại với tác nhân đó trong bất cứ cảnh huống nào. Nếu tác nhân đó quá phổ thông có thể gặp bất cứ khi nào thì nên tới trọng điểm dị ứng miễn dịch để thực hành giải dị ứng với tác nhân đó.

Những trường hợp không xác định được căn nguyên gây dị ứng thì nên tạo mỗi trường trong lành, không khói bụi, vệ sinh phòng ốc, máy lạnh thẳng băng...

BS. Trần Công

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét